13/11/2014

Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Ảnh Làng Mai

Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã thay đổi nhiều người trên thế giới. Trong đó có tôi!



 Tiểu sử Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Thiền sư Thích Nhất Hạnh được đánh giá nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ hai ở phương Tây chỉ sau Đạt-lai Lạt-ma.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh sinh năm 1926 tại Thừa Thiên Huế, tên húy là Nguyễn Xuân Bảo.

Vào năm 16 tuổi ông xuất gia ở chùa Từ Hiếu gần Huế, nơi ông thọ giáo với Thiền sư Thanh Quý Chân Thật. Tốt nghiệp Viện Phật học Bảo Quốc ở miền Trung Việt Nam, Thiền sư Thích Nhất Hạnh tu học thiền theo trường phái Đại thừa của Phật giáo và chính thức trở thành một nhà sư vào năm 1949.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh bây giờ được công nhận là một thiền sư và là lãnh đạo tinh thần của chùa Từ Hiếu và các tu viện liên quan khác. Ông là tổ của nhánh Từ Hiếu đời thứ 8 của dòng Liễu Quán trong đời thứ 42 của phái thiền Lâm Tế Dhyana (Lin Chi Chan 臨濟禪, hay Rinzai Zen trong tiếng Nhật).

Vào ngày 1/5/1966 tại chùa Từ Hiếu, Thiền sư Chân Thật trao ấn khả cho  Thích Nhất Hạnh để từ đây ông trở thành một thiền sư (thầy dạy về thiền). Thích Nhất Hạnh đã phối hợp kiến thức của ông về nhiều trường phái thiền khác nhau cùng với các phương pháp từ truyền thống Phật giáo Thượng tọa bộ, những nhận thức sâu sắc từ truyền thống Phật Giáo Đại thừa, và vài phát kiến của ngành tâm lý học đương đại phương Tây để tạo thành cách tiếp cận hiện đại của ông đối với thiền.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã trở thành một người có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của Phật giáo phương Tây.

Năm 1956 ông là Tổng biên tập của Phật giáo Việt Nam, tờ báo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Trong thập niên 1960, ông thành lập Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội (School of Youth for Social Services – SYSS) ở Sài Gòn, một tổ chức từ thiện xây dựng lại các làng bị bỏ bom, xây dựng trường học và các trạm xá, và giúp các gia đình bị trở thành vô gia cư trong Chiến tranh Việt Nam. Ông cũng là một trong những người thành lập Viện Đại học Vạn Hạnh và Nhà xuất bản Lá Bối.

Viện Đại học Vạn Hạnh trở thành một viện đại học tư thục danh tiếng tập trung các nghiên cứu về Phật giáo, văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh dạy giáo lý Phật giáo và Bát-nhã-ba-la-mật-đa (Prajnaparamita). Trong một buổi gặp mặt vào tháng 4 năm 1965, đoàn sinh viên Vạn Hạnh đưa ra thông điệp “lời kêu gọi vì hoà bình”. Nội dung chính của lời kêu gọi là “đã đến lúc hai miền Bắc-Nam của Việt Nam họp lại để tìm một giải pháp chấm dứt chiến tranh và đem lại cho mọi người Việt Nam cuộc sống hoà bình với lòng tôn trọng lẫn nhau”.

Thiền sư đã đến Hoa Kỳ nhiều lần để nghiên cứu và diễn thuyết tại Viện Đại học Princeton và Viện Đại học Cornell, và sau này giảng dạy tại Viện Đại học Columbia. Mặc dầu vậy, mục đích chính cho các chuyến đi ra nước ngoài (Mỹ và Âu Châu) của ông trong thời gian này vẫn là để vận động cho hòa bình.

Ông kêu gọi Martin Luther King, Jr. công khai chống lại Chiến tranh Việt Nam, và thuyết giảng với nhiều người và nhiều nhóm về hòa bình. Vào năm 1967, King đề cử Thiền sư Thiền sư cho Giải Nobel Hòa bình.

Thiền sưu Nhất Hạnh dẫn đầu phái đoàn Phật giáo đến Đàm phán hòa bình Paris. Là một trong những người thầy về Phật giáo ở phương Tây, những lời dạy và các phương pháp thực hành của Thích Nhất Hạnh thu hút nhiều người đến từ các quan điểm về tôn giáo, tâm linh và chính trị khác nhau. Ông đưa ra cách thực hành “chánh niệm” (sự lưu tâm đúng đắn – Pali: Sati; Sanskrit:smṛti स्मृति; tiếng Anh: mindfulness), thường được điều chỉnh cho phù hợp với tri giác phương Tây.

Năm 1966, ông lập ra Dòng tu Tiếp Hiện (“Tiếp” có nghĩa tiếp xúc, tiếp nhận, “Hiện’” có nghĩa thực hiện; tên tiếng Anh là The Order of Interbeing, tiếng Pháp là L’ordre de l’interêtre), và thiết lập các trung tâm thực hành và các thiền viện khắp trên thế giới. Nơi cư ngụ của ông là Tu viện Làng Mai ở vùng Dordogne thuộc miền Nam nước Pháp. Ông du hành khắp thế giới thuyết giảng và tổ chức các khóa tu thiền.

Sau nhiều năm không được phép quay về Việt Nam, ông được về lần đầu tiên vào năm 2005. Nhất Hạnh vẫn tiếp tục các hoạt động vận động vì hòa bình. Ông đã tổ chức các khóa tu thiền cho người Israel và người Palestine, khuyến khích họ lắng nghe và học hỏi lẫn nhau; thuyết giảng kêu gọi các nước đang tham chiến hãy đình chiến và đi tìm các giải pháp bất bạo động cho các mâu thuẫn của họ; và tổ chức diễu hành hòa bình ở Los Angeles vào năm 2005 được tham dự bởi hàng ngàn người.

Tiếp đó, Thiền sư đã trở lại Việt Nam lần đầu năm 2007, 2008.

Chuyện tử tế 2: Người lái taxi

Người lái taxi thật thà. Ảnh Van RS
"Chiều hôm nay (12/11) anh em đi xe của cậu này từ Mỹ Đình, quận Nam Từ Liêm (Hà Nội) đến Đại học dược ở Lê Thánh Tông (cách khoảng 15 km) có bỏ quên một chiếc điện thoại SONY Z2 trên xe.

Khi xuống xe vài phút anh em mới phát hiện quên máy điện thoại. 

Khổi nỗi, khi lên và xuống xe cũng chẳng để ý là xe gì và hãng nào vì gặp là đi luôn.
Em có gọi vào điện thoại của anh em, sau vài cuộc thì cậu ấy bắt máy và hẹn sau khi trả khách xong sẽ quay trở lại.

Đúng hẹn khoảng 30 phút sau cậu ấy đã quay trở lại trả điện thoại.

Anh em có đưa tiền cho cậu ấy nhưng cậu ấy chỉ lấy 200k tiền xăng.

Anh em phải nói là bồi dưỡng cậu ấy mới nhận thêm.

Một lần nữa qua đây anh em xin gửi lời cảm ơn cậu lái xe TAXI tốt bụng". 

Chuyện của Van RS/ otofun

10/11/2014

Việt Nam xuất khẩu Đại tướng

Theo thông tin từ báo Tuổi Trẻ, hai nông dân Việt Nam vừa được Vương quốc Campuchia trao huân chương Đại tướng quân vì thành tích chế tạo xe bọc thép, đóng góp cho nền kỹ thuật của đất nước này. 

Ảnh minh họa. Nguồn: internet
Cụ thể,Ông Trần Quốc Hải (nông dân chế tạo máy bay ở Tân Châu, Tây Ninh) và ông Trần Quốc Thanh (con trai ông Hải) vừa được Vương quốc Campuchia trao huân chương Đại tướng quân.
Đồng thời, Quốc vương Campuchia cũng cấp giấy chứng nhận ông Hải và ông Thanh là nhà kỹ thuật sửa chữa xe bọc thép BRDM 2 và BTR60PB, ghi nhận những đóng góp của hai người cho nền kỹ thuật của đất nước.

Trong những lần qua Campuchia để hỗ trợ kỹ thuật máy trồng mì tại lữ đoàn 70, ông Hải thấy một số xe bọc thép cứ bị đẩy ra đẩy vào mà không khởi động được. Ông đề nghị để mình thử sửa chữa loại xe này.

Ông Hải đã tự bỏ tiền túi tổng cộng 25.000 USD để sửa xe bọc thép BRDM 2 (do Liên Xô cũ sản xuất). Chiếc xe bọc thép BRDM 2 sau khi sửa có thể vận hành với 25 lít dầu diesel/100 km so với trước đây là 45 lít, tác xạ nhanh hơn, hỏa lực mạnh hơn so với trước, vòng xoay súng có thể bắn ở cự ly gần hơn so với 150 m của xe cũ, tháp pháo tự động.

Sau thành công của chiếc xe, ông Hải được lữ đoàn 70 giao sửa chữa thêm 10 chiếc xe bọc thép khác và bắt tay vào nghiên cứu chế tạo một xe bọc thép mới.


 Định bình loạn một chút nhưng mà thôi các bác tự liên hệ với việc Quốc hội vừa bàn luận về tâm tư của tướng!

08/11/2014

Chuyện tử tế 1:Chị trông xe

Ảnh minh họa. LIFE
Tối qua, tôi đưa vợ con ra bến xe Gia Lâm để về Hải Phòng thăm ông bà nội. 
Tới bến xe cũng nhá nhem tối. Sau khi đưa vợ con vào nhà chờ của bến xe, như thường lệ tôi gửi xe vào bãi cách bến một đoạn. 
Cô trông xe đon đả "Sao em về quê muộn thế?"
"Dạ hai vợ chồng tan làm muộn nên về muộn chị ạ". 
Thấy tôi tay xách nách mang nào balo, nào túi tắm của vợ con, chị trông xe liền bảo "Em chờ chút để anh về chở ra bến. Để chị gọi anh".
Tôi cũng hơi ngạc nhiên, nhưng rồi cũng từ chối lời đề nghị của chị vì thấy phiền anh chị quá.

Bước ra bến xe mà lòng vui vui, nhẹ nhõm.
Cảm ơn chị.



01/11/2014

Vào Quốc hội không chỉ để vỗ tay


Ảnh minh họa. Nguồn: Đại biểu Nhân dân
Không phát biểu, phát biểu bài của người khác, nhấn nút biểu quyết hộ, hỏi mồi… thực tế diễn ra tại các kỳ họp Quốc hội đã được lãnh đạo Quốc hội cùng các đại biểu Quốc hội (ĐBQH), nguyên ĐBQH thẳng thắn chỉ ra.



Cảnh báo cần thiết

Tại phiên họp thứ 27 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nêu thực trạng “có ĐBQH ở Ủy ban Thường vụ Quốc hội phát biểu, nhưng ra Quốc hội lại không thấy nói gì cả”.

Thậm chí, theo Chủ tịch Quốc hội, trong thảo luận có đại biểu còn lấy bài của người khác để phát biểu.

Còn Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết: “Nhiều khi đang biểu quyết cùng một dự án luật, nhưng số lượng đại biểu tham gia biểu quyết thay đổi liên tục: lúc thì 480, lúc bốn trăm bảy mấy, lúc cao hơn năm người, lúc tụt xuống ba người... Có nghĩa là người ta biểu quyết hộ người khác nên lúc bấm nút, lúc thì quên”.Trong khi đó, nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Vũ Mão đề cập hiện tượng “hỏi mồi” trong các phiên chất vấn tại Quốc hội. Đó là việc đại biểu hỏi câu hỏi dễ, người được “hỏi mồi” không phải toát mồ hôi với những vấn đề gay cấn và thoải mái khi chỉ còn là cung cấp số liệu vô thưởng vô phạt.

Theo ông Vũ Mão những câu hỏi bị liệt vào dạng “hỏi mồi” nhằm nhiều mục đích khác nhau như thể hiện với cử tri mình đã làm tròn nhiệm vụ của một ĐBQH, vun vén lợi ích cá nhân, lợi ích cục bộ địa phương, đặt quan hệ với người được chất vấn. Thậm chí các câu “hỏi mồi” còn có thể có sự can thiệp của nhóm lợi ích, lợi ích cục bộ nhằm mưu lợi.

GS Nguyễn Minh Thuyết, ĐBQH khóa XI, XII khẳng định đó là một thực tế đáng buồn và cũng được dư luận, báo chí nêu lên từ lâu. Nhưng việc Chủ tịch Quốc hội lần đầu tiên công khai phê bình những hiện tượng như trên lại là dấu hiệu đáng mừng, là cảnh báo cần thiết và đúng lúc.

GS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng, có thể nhiều ĐBQH nghĩ công việc tại Quốc hội đã có người lo nên chỉ việc ấn nút thông qua, hoặc lo ngại việc trái ý cấp trên, hoặc cho rằng vấn đề đã được quyết định nên không cần phát biểu nữa.

Thậm chí có cả tình trạng sợ nói vì sợ lộ điểm yếu, sợ việc “vạch áo cho người xem lưng”. Tuy nhiên, với việc phát biểu bằng bài của người khác, GS Thuyết gay gắt phê phán và cho rằng “không chấp nhận được”.

Vì như vậy đại biểu đó đã không chịu suy nghĩ, không có chính kiến gì mà nói theo lời người khác, hùa theo ý kiến số đông hay nói theo kiểu đón ý cấp trên.

Tăng cường giám sát của cử tri

Khi bàn về Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi), đại biểu Huỳnh Nghĩa (Đoàn ĐBQH Đà Nẵng) cho rằng, có những thực trạng trên là do một số ĐBQH thiếu một phẩm chất quan trọng là “tư duy phản biện”. Theo đại biểu Nghĩa điều này dẫn tới việc dễ chấp nhận những kết luận, tròn trịa, êm thuận mà cấp trên đưa ra.

Nhắc lại quyền và nghĩa vụ của ĐBQH, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, ĐBQH các khóa VIII, IX, X gay gắt cho rằng “đại biểu bấm nút hộ, phát biểu bài của người khác là vi phạm nguyên tắc tổ chức, Luật Tổ chức Quốc hội và đặc biệt họ đã phụ lòng tin của nhân dân, khiến người dân mất niềm tin vào Quốc hội”.

Đối với ĐBQH mối quan hệ với trưởng, phó Đoàn đại biểu là mối quan hệ khá nhạy cảm. Các trưởng, phó Đoàn ĐBQH thường là bí thư tỉnh ủy, chủ tịch tỉnh.

Đại biểu phản ánh những ý kiến bức xúc của cử tri nhiều khi lại liên quan vấn đề điều hành của chính quyền, lợi ích của người dân. ĐBQH không đứng trên địa vị của người dân thì không dám đưa ra thảo luận, đấu tranh.

“Ba khóa tôi là ĐBQH của tỉnh Nghệ An, có nhiều ý kiến dân rất đồng tình, nhưng với các trưởng đoàn, phó đoàn nhiều lúc lại không bằng lòng”, Tướng Thước chia sẻ.

Trung tướng Thước cho rằng, việc sửa đổi Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, tăng cường sự giám sát của cử tri, báo chí là cơ hội để ngăn ngừa tận gốc những nguyên nhân làm phát sinh tình trạng trên.

Trung tướng Thước nhận định hiện nay những mối quan hệ về lợi ích có thể điều khiển nội dung, dẫn dắt và chi phối cách thức phát biểu của nhiều đại biểu. Vì thế họ không nói lên tiếng nói và nguyện vọng của nhân dân mà chỉ nói lên tiếng nói của các nhóm lợi ích.

Bài trên báo Tiền Phong, ngày 25/7/2014. Nguyễn Công Khanh