30/07/2011

Chủ nghĩa nhân văn "cơ hội"


Khoái cảm từ một cậu bé chăn trâu thành VIP, cô bé giúp việc thành "sao" là khoái cảm của con cá chép vượt vũ môn, con vịt biến thành thiên nga. 


28/07/2011

"Một nghìn đồng thì mua được cái gì?"

Đó là tiêu đề bài viết trên Dân Trí, thứ 5 ngày 28-7-2011.
Cách đặt vấn đề mới nhẹ nhàng làm sao, nhưng rồi đọc đến đoạn ông Cao Sĩ Khiêm thì chán hẳn - chán ngấy rồi những Nguyên này Nguyên nọ phát biểu rồi.
Thôi thì kệ, 1000 đồng to chứ, - ngày xưa á có 1000 trong túi cũng vững tin ra đường mà.

Làm sao để cho khác người bây giờ?

Lịch sử văn minh thế giới ghi nhận rằng theo đà phát triển của xã hội, người giàu ngày càng khổ tâm vì chẳng còn biết làm cách nào cho khác biệt với người bình dân nữa.

1. Xưa rồi cái thời ai ai ở nước mình cũng làm thơ. Số lượng tập thơ in hằng năm thì vẫn nhiều, vượt xa sách khoa học và cả sách bói toán tử vi, nhưng không khí thơ ca nhìn chung đã chùng xuống, chẳng còn ai đủ sức làm một bài thơ mà kêu gọi được cả lứa thanh niên hồ hởi “lên miền Tây vời vợi nghìn trùng” nữa.
Tình trạng này, theo nhiều nghiên cứu chưa công bố của giới xã hội học, bắt nguồn một phần lớn từ việc đông đảo quần chúng đã tìm được một cách khác để thể hiện nỗi lòng: chụp ảnh.


2. Cũng xưa rồi cái thời một cái máy ảnh Zenit hay Praktica quý hiếm lắm, ai cũng mơ ước. Lịch sử văn minh thế giới ghi nhận rằng theo đà phát triển của xã hội, người giàu ngày càng khổ tâm vì chẳng còn biết làm cách nào cho khác biệt với người bình dân nữa. Xưa kia thể thao và đi du lịch được dùng để phân biệt đẳng cấp, giờ thì cuối tuần xuống Đồ Sơn rất dễ loạng quạng gặp gia đình bà bán xôi đầu ngõ. Mấy người giàu thật ở Việt Nam giờ chán ngán vứt gậy từ bỏ những sân golf Chí Linh, Phoenix, nhường chỗ cho các vị mới bán được dăm mảnh đất khu vực ngoại thành cuối tuần hãnh diện vận áo phông có cổ lái xe Lexus mấy chục cây số để “nàm (làm) vài gậy”.
Sau thể thao và du lịch thì đến công nghệ. Kỷ nguyên máy ảnh kỹ thuật số giúp nhà quản lý dễ dàng dẹp tan tác đội quân chụp ảnh dạo xưa kia vốn rất khó quản lý. Giờ đây bỗng người ta phát hiện một sự thật tươi sáng: trong mỗi con người đều ẩn náu một nhiếp ảnh gia tiềm tàng. Giống như trước kia người ta mừng rỡ vì đích thị tâm hồn mình vụt trở thành tâm hồn thi nhân trong một đêm trăng rằm.
Đặc điểm của nhiếp ảnh gia tự giác là bạ cái gì cũng chụp, từ mèo nhà mình đến mèo nhà hàng xóm; họ lại rất hay thay máy thay ống kính, cái gì mới nhất là mua về, rồi thì đồ quý như Hasselblad với Leica M6 giờ nhan nhản mới khiếp, cứ như là máy khác ống khác thì tức khắc thay đổi ngay được cái nhìn vậy; và đặc biệt trong tâm hồn họ hình như luôn luôn phảng phất ý nghĩ mình là hậu duệ chân truyền của Henri Cartier-Bresson, họ chê ảnh của nhau và nhất là hay chê ảnh của nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp: “Tay ấy bố cục kém quá”. 

3. Cũng giống thịt chó thì không thể thiếu lá mơ, đã chụp ảnh thì không thể quên đi “phượt”. Chụp và phượt đã trở thành đôi bạn chí thân, phượt để chụp và chụp để ghi lại những khoảnh khắc phượt. Mùa Xuân mà đi quá Hòa Bình lên tới Mộc Châu, cách một quãng lại thấy một nhóm nhiếp ảnh gia lỉnh kỉnh máy với ống chĩa vào gốc cây tảng đá, hòn sỏi lá cây, bông hoa con sâu, đỗ bên đường là xe Triton, xe Fortuner, xe Jeep “cởi truồng”, ai nấy quần áo ký giả nín thở bấm nút. Cảnh tượng có thể nói là đầy chất thơ mộng và lãng tử.

4. Nói chuyện thơ ở trong đề tài nhiếp ảnh là vì hai cái này có liên quan đến nhau. Cái thời thơ còn vượng, có chuyện kể là dân văn nghệ sĩ tụ bạ từ bốn người trở lên phải ra quy định ai muốn đọc thơ (tất nhiên là đọc thơ mình, vì ngâm nga thơ mình đã hết ngày rồi, lấy đâu ra mà đọc thơ người khác) thì phải nộp tiền, năm mươi nghìn một lần đọc. Thế rồi đến tàn cuộc kiểm lại hóa ra ai cũng mất tiền cả, bét cũng mất vài trăm. Có những ông rút “soạt” cả xấp tiền, mặt đỏ lựng chờ đến lượt để đọc nguyên một bản trường ca.

5. Giờ muốn không bị chụp ảnh nhiều khi phải xin, đấy là còn chưa nói đến những “blog stylist” ra đường thấy gì cũng chụp rồi “post” lên mạng, rất nhiều người muốn trở thành The Sartorialist danh tiếng. Xưa có lời khuyên là khi gặp nhà thơ phải ăn mặc cho kín đừng để hở bất kỳ thứ gì để khỏi bị nhà thơ vịnh cái mũi hay vịnh lông mày, giờ gặp nhiếp ảnh gia đại trà càng phải che chắn cho kỹ, vì ít ra thơ còn miêu tả ẩn dụ, chứ ảnh chụp thì trần trụi lắm, chẳng may gặp phải người nào đang tập thực hành macro thì càng khổ nữa.
Rốt cuộc người chụp ảnh khéo nhiều hơn người được chụp. Càng ngày ta càng thấy nhiều hơn những bức ảnh chụp người đang chụp ảnh và không lạ gì cái cảnh dăm chục tay máy chĩa vào một cô người mẫu ăn vận kiểu cổ chít khăn mỏ quạ đứng làm duyên bên bức tường rêu.

Hơn thế nữa, một số nhiếp ảnh gia nghiệp dư lại còn hay viết tản văn để miêu tả cái hay cái đẹp cái tinh hoa trong ảnh của mình. Những áng văn ấy đọc lên thường nghe như thơ.

Theo Thể thao & Văn hóa

Lâu rồi lại đọc được một bài gãi đúng chỗ ngứa

25/07/2011

Tận rõ bài Tưởng niệm Hoàng đế Quang Trung” của GS.Vũ Khiêu

Lên mạng oánh từ Toàn văn bài Tưởng niệm Hoàng đế Quang Trung của GS Vũ Khiêu nhưng không thấy!
May sao trên mạng lại có ảnh chất lượng cao và cỡ lớn của 'người nhà' của nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên gửi ra, chỉ tiếc rằng ở một số nơi nó bị 'bé quá' nên khó đọc.

Nay nhà cháu lưu về đưa lên để bà con cũng tỏ.

Đục bỏ cả lịch sử

nhà văn Nguyễn Bắc Sơn và PXN ở bia khắc chữ cụ Hồ
Tôi học tư tưởng Hồ Chí Minh khá kỹ, thấy rằng cụ nói điều gì cũng là thánh chỉ, kể cả cái câu mà phải nói thật là rất... dở mà giờ đi trên đường liên tục thấy là "Rừng là vàng, nếu mình biết giữ gìn thì rừng rất quý", tôi cho rằng ngành kiểm lâm lấy câu này của cụ để phổ biến nội bộ, học tập nội bộ, giáo dục nội bộ thì được chứ trưng ra khắp nơi như thế e lại... hạ thấp cụ. Câu này phải đặt trong ngữ cảnh cụ thể chứ cắt cụt lủn ra thế nó buồn cười lắm, chắc cụ cũng chả nghĩ con cháu lại vinh danh mình kiểu ấy
thế nên đang sùng bái thế mà sáng nay tôi phải phẫn nộ khi Phạm Xuân Nguyên nhắn tin thông báo về việc đục chữ của cụ ở chính quê cụ. Tôi không tin con cháu cụ lại bố láo thế nên đưa lên đây nhờ các bạn xác minh, nếu đúng thế thì... yàng ơi, động đến nơi rồi...

24/07/2011

20/07/2011

Khi một người ngã xuống

Trung úy Lê Thanh Tâm
Tuổi Trẻ vừa đưa tin
Thăng quân hàm vượt cấp cho chiến sĩ công an hy sinh
"Sáng nay 20-7, được sự đồng ý của lãnh đạo Bộ Công an, Đại tá Nguyễn Đình Dũng, hiệu trưởng trường Trung cấp cảnh sát nhân dân II, đã trao quyết định thăng cấp hàm từ Thượng sĩ lên Trung úy cho chiến sĩ Lê Thanh Tâm.
Anh Tâm (26 tuổi) hiện là sinh viên khóa 16 đã hy sinh vào chiều 19-7 trong lúc truy bắt tội phạm tại huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai."

Cụ thể hơn, cũng theo TT báo giấy số ra ngày hôm nay có đoạn:
"Khi đến vòng xoay huyện Cẩm Mỹ, bị công an truy đuổi, hai tên bỏ xe chạy bộ vào rẫy của ông Ly ở ấp Suối Cả, xã Long Giao. Tại đây chúng đã bắn bị thương một người dân và khống chế ông Ly. Chiến sĩ Lê Thanh Tâm đuổi đến nơi, xông vào khống chế một tên thì bị bắn chết tại chỗ. Khi lực lượng cảnh sát được huy động, tên cướp đã nổ súng chống trả, buộc lực lượng công an phải nổ súng tiêu diệt. Tên cướp bị hạ được xác định là Trần Quốc Tuấn (22 tuổi, ngụ TP Biên Hòa, Đồng Nai). Công an thu giữ một khẩu K59. Tên còn lại nhanh chân chạy trốn nên công an và người dân tiếp tục truy lùng."
Cứ mỗi lần gặp những thông tin như thế này, mình đều cảm thấy đau. 
Đau vì lại một người trẻ như mình ngã xuống
Đau khi nhìn thấy gia đình họ
Nhưng đau hơn cả là cái cách mỗi chiến sĩ công an, bộ đội phải ngã xuống khi xông vào các đối tượng nguy hiểm.

Mỗi lần như vậy, lại hàng loạt câu hỏi nhảy loạn xạ trong đầu: 

Trường lớp nào dạy họ như vậy? Chủ nghĩa anh hùng cách mạng chăng? 
Tại sao phải XÔNG vào bọn cướp có vũ trang trong khi có thể chờ đồng đội tới hỗ trợ?!
Tại sao càng ngày càng có nhiều tên cướp có vũ trang, táo tợn và nguy hiểm đến vậy?

Về Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Bác Gốc Sậy vừa gửi cho bản trên blog và bản trên web của báo Đại Đoàn Kết bài phân tích về Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường sa của Việt Nam, tác giả:
Thiết nghĩ nó rất lý thú, nên đăng lại làm tư liệu để pà con có thể tham khảo.
Cám ơn bác  Gốc Sậy đã share hàn


Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (20/07/2011)


Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Việc Trung Quốc diễn giải nội dung công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời.
Có thể nói, giải thích xuyên tạc công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời.
Có thể nói, giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
 

 Đảo Núi Le thuộc quần đảo Trường Sa
Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:
“Thưa đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.
Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:
"Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”
Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan.
Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan.
Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia.
Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia.
Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển.
Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển.
Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề  trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề Trung Quốc đã đặt ra.
Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù lúc đó chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề được Trung Quốc đặt ra.
Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ giữa thế kỷ XX đã nằm trong chiến lược “lấn sân” của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.
Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ XX đã nằm trong chiến lược "lấn sân” của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.
Ngày 26-5-1950 , chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án.
Ngày 26-5-1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án.
Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3-9-1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất.
Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3-9-1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất.
Ngày 11-8-1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Âu Lai tuyên bố sẽ “giải phóng” Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ.
Ngày 11-8-1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ "giải phóng” Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ.
Ngày 12-9-1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công nguyên tử Trung Quốc, nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này.
Ngày 12-9-1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này.
Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23-8-1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp Định phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.
Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23-8-1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.
Ngoài bối cảnh “phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt, Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ VNDCCH –Trung Quốc lúc đó “vừa là đồng chí vừa là anh em”.
Ngoài bối cảnh "phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù VNDCCH –Trung Quốc lúc đó "vừa là đồng chí vừa là anh em”.
Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc.
Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc.
Thế rồi sang năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam.
Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam.
Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH – Trung Quốc lúc bấy giờ.
Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH – Trung Quốc lúc bấy giờ.
Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trong đó trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan.
Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan.
Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích “sâu xa” của họ trên Biển Đông nên đã “lồng ghép”  thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố.
Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích "sâu xa” của họ trên Biển Đông nên đã "lồng ghép” thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố.
Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ, đơn giản chỉ là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan.
Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc.
Trong tình thế đó, có thể xem đây chỉ là những tuyên bố mang tính chính trị và ngoại giao chứ hoàn toàn không có ý nghĩa pháp lý.

Nội dung công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Nhất là trong hoàn cảnh ra đời của công hàm như đã nêu trên, công hàm 1958 có hai nội dung rất đơn giản và rõ ràng:
Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên. Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng:
Một là, Chính phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý;
Một là, Chính phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý;
Hai là, Chính phủ VNDCCH chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. Trong công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu.
Hai là, Chính phủ VNDCCH chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu.
Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.
Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.
Tại hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự.
Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự.
Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu.
Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu.
Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam.
Các điều khoản trong hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam .
Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam.
Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4-9-1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực.
Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4-9-1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực.
Hơn ai hết, Thủ tướng Phạm Văn Đồng hiểu rất rõ điều đó khi đưa ra công hàm 1958 nên đã không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).
Trong Công hàm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).
Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó.
Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó.
Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Chính phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc khi đó đã không tiện nói thẳng ra mà chỉ đơn giản khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế.
Chính phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc đã khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế.
Trong khi đó, Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục hành xử chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. 
Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.
Trong khi đó, Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này.
Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.

TT Phạm Văn Đồng và Pierre Mendès-France tại Genève tháng 7-1954


 Bức Công hàm ngày 14-9-1958 của Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa  do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký
Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ, hòng đánh lận con đen trong tuyên bố của Chu Ân Lai liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Về thực chất, công hàm 1958 chỉ là sự thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc mà thôi.
Về thực chất, Công hàm 1958 thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc.
Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do.
Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do.
Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho VNDCCH.
Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho VNDCCH.
Nội dung công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng  phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa VNDCCH và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa VNDCCH và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội nước Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Theo quy định của hiến pháp Việt Nam các thời kỳ và cũng phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc về quyền dân tộc tự quyết, theo đó tất cả các vấn đề liên quan tới độc lập dân tộc, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia phải được cơ quan đại diện cho quyền lực cao nhất của dân là Quốc Hội xem xét biểu quyết mới có giá trị pháp lý.
Cho nên, các nhà nghiên cứu cho rằng công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xét về bối cảnh và trình tự thủ tục ban hành, đơn giản chỉ là một văn thư ngoại giao mang tính chính trị chứ không thể xem đó như là một công hàm có giá trị pháp lý về tuyên bố chủ quyền lãnh thổ quốc gia.


Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc đó không phải là một quốc gia trong cuộc tranh chấp đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines.
Như vậy, những lời tuyên bố của VNDCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp.
Nếu đặt giả thuyết VNDCCH và CHXHCN Việt Nam là một thì dựa trên luật quốc tế, những lời tuyên bố đó cũng không có hiệu lực. Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết “estoppel” để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam .
Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc đó không trực tiếp quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines.
Như vậy, những lời tuyên bố của VNDCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp.
Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết "estoppel” để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam.
Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”.
Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác.
Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính:
1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch;
2) Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động;
3) Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó;
4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine ”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua ”, bản án “Ngôi đền Preah Vihear”,…
Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết "estoppel”.
Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác.
Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính:
1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách minh bạch;
2) Quốc gia nại "estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động;
3) Quốc gia nại "estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó;
4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án "Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án "Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án "Ngôi đền Preah Vihear”...
Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của VNDCCH, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên.
Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của VNDCCH.
Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.
Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của VNDCCH, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên.
Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của VNDCCH.
Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.
Lúc đó hai nước VNDCCH và Trung Quốc có mối quan hệ rất đặc thù,  những lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong công hàm 1958 hoàn toàn nằm trong bối cảnh đặc thù và hết sức khó khăn của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ.
Hơn nữa, theo luật pháp quốc tế, lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có thể hiểu là một lời hứa đơn phương, một lời tuyên bố ý định sẽ làm một việc gì.
Thật vậy, công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ là một lời hứa sẽ tôn trọng quyết định của Trung Quốc trong việc ấn định lãnh hải của Trung Quốc (tất nhiên phải hợp pháp theo các quy định của luật pháp quốc tế đương thời), và một lời hứa sẽ ra lệnh cho cơ quan công quyền của mình tôn trọng lãnh hải đó của Trung Quốc.

Một lời hứa thì lại càng khó ràng buộc quốc gia đã hứa.
Tòa án Quốc tế đã ra thêm một điều kiện nữa để ràng buộc một lời hứa: đó là ý chí thực sự của một quốc gia đã hứa.
Nghĩa là quốc gia đó có thực sự muốn bị ràng buộc bởi lời hứa của mình hay không. Để xác định yếu tố “ý chí”, Tòa án Quốc tế xét tất cả những dữ kiện xung quanh lời tuyên bố đó, xem nó đã được phát biểu trong bối cảnh, trong những điều kiện nào. Hơn nữa, nếu thấy quốc gia đó có thể tự ràng buộc mình bằng cách ký thỏa ước với quốc gia kia, thì lời tuyên bố đó là thừa, và Tòa sẽ kết luận là quốc gia phát biểu không thực tình có ý muốn bị ràng buộc khi phát biểu lời tuyên bố đó.
Vì vậy, lời tuyên bố đó không có tính chất ràng buộc. Trong trường hợp này, VNDCCH và Trung Quốc không hề ký kết bất kỳ một hiệp ước nào có nội dung Việt Nam quyết định từ bỏ chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo này.

Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc.
Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ “nuốt trọn” Biển Đông, theo kiểu “miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình”.
Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc.
Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ "nuốt trọn” Biển Đông, theo kiểu "miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình”.

Tư tưởng lý luận mới của bọn hậu sinh lai sói

(Nhân đọc “Tô tem sói” của Khương Nhung, ND: Trần Đình Hiến – Nxb CAND quí I/2007) 
Cuối cùng chỉ băn khoăn một điều. Rằng nhà xuất bản CAND tất phải đứng về phía nhân dân. Mà đã “nhân dân” tất phải yêu chuộng hòa bình. Phải chăng NXB có “thâm ý” xuất bản cuốn sách này để nhân dân “nâng cao cảnh giác” với cái tư tưởng “sô vanh chó sói” kia đang hàng ngày hàng giờ phà cái hơi tanh tưởi của nó vào những hải đảo, biên cương… thậm chí phà vào tận gáy ta, vào những bàn tay, ánh mắt trẻ thơ, vào cả cái dạ dày của ta nữa…?

Người chuyển ngữ sang tiếng Việt, ông Trần Đình Hiến khả kính quảng cáo nó là một kho tàng kiến thức kì diệu. NXB, các kênh truyền thông chính thống, cực kì chính thống… đại loại là các “trí thức” cũng chính thống, cực kì chính thống hết lời ca ngợi. Già đời có, cừu non có. Thực bụng có, a dua cũng có. Thậm chí “ăn theo” người khác, “ăn theo” lời nói đầu (rằng nó là một kì thư đệ nhất thế gian…) Sách cỡ này không đọc tất… ngu lâu. Bèn cố gắng tậu 1 cuốn.
Đọc xong, bỗng rùng mình, và… giận.
Nhưng thôi, kệ họ. Thời buổi thị trường, sách làm ra thì phải quảng cáo, quảng cáo để bán chạy, bán chạy để kiếm lời, để tô son trát phấn cho các kiểu thương hiệu, nào là dịch giả, NXB, Cty Sách, phê bình da, v.v… thế thôi.
Song đến khi thấy mấy thằng cháu, hiện đang là sinh viên cũng “uốn ba tấc lưỡi” mà khen nức khen nở cuốn sách, y hệt như những giọng điệu kia thì không thể im lặng được nữa.
Trước tiên, phải vả vào mồm mấy cái rồi tự mắng mình cái đã. Mắng rằng: “Mày, cái thân phận nhược tiểu, xưa nay vốn đã ăn không nên đọi, nói không nên lời, lại là cái giống đầu óc ngu si, tứ chi… kém phát triển thì chẳng cần phải biết nhục làm gì. Một nền văn minh sừng sững như Thái sơn, mấy nghìn năm nay luôn là kiểu mẫu cho tứ di (bốn phương mọi rợ), trong đó có tổ tiên mày, ông cha mày. Vậy thì bất kể cái gì của người ta cũng chắc chắn là tuyệt đỉnh, chỉ được phép há to mồm ra mà hớp được hớp nào hay hớp nấy. Không hớp được thì tự trách mình kém, mình ngu. Trách xong hãy mở to mắt ra mà xem người ta “văn minh”, người ta “vĩ đại” như thế nào. Đừng có dại mà há họng phàn nàn…”
Vâng! “Em chã” dám phàn nàn. Vậy hãy xem cái “kho tàng kiến thức” này nó “kì diệu” và mới mẻ cỡ nào? Đây là một tiểu thuyết không có cốt truyện, chỉ có những tình huống và chi tiết được dàn dựng, sắp đặt nhằm mục đích… rao giảng kiến thức. Đó là một bức tranh sinh động, hết sức sinh động, phải công nhận như thế, về cuộc sống của một thảo nguyên Mông Cổ với cả quá khứ, hiện tại và tương lai của nó. Trong đó tác giả đã nhân cách hoá giống sói với một “liều lượng” chóng mặt, đến nỗi làm cho chữ “sói” vượt quá cả chữ “nhân”. Sói hơn hẳn người về nhiều mặt, bắt đầu từ “đẳng cấp” trở đi. Sói là thầy? không, còn hơn thế nữa, là tổ tiên thật sự của con người. Với một giọng văn phù thuỷ, dẫn giải tương đối hấp dẫn, tác giả tả sói đã hay, tả ngựa, tả cừu… cũng hay không kém. Đặc biệt tả muỗi còn hay hơn nữa. Chỉ có tả người là dở ẹc. Trong truyện ngoại trừ nhân vật ông già Pilich được xây dựng tương đối công phu, còn lại là một đám nửa người nửa… gia súc (kể cả nhân vật chính Trần Trận – hoá thân của tác giả). Cái đám quan ngựa, quan dê, quan cừu… ấy có một kẻ cầm đầu (Bao Thuận Quý) thì ngu dốt, mù quáng và duy ý chí. Tất cả dồn về cái thảo nguyên này té ra để làm mỗi việc… chuẩn bị chiến tranh (nên nhớ thời điểm xảy ra câu chuyện là thời điểm mà nhân loại vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh thế giới thứ 2). Song điều đó chỉ thấp thoáng kiểu “úp úp mở mở” thôi. Một cuốn sách dày cộp lại có số nhân vật ít ỏi đến không ngờ (đếm không quá hai bàn tay), trong đó chỉ duy nhất 1 nhân vật là đàn bà đã có chồng. Tóm lại, con người ở đây chỉ đóng vai trò là đám bung xung, là cái cớ để tác giả dựng lên số kiếp của cả một thảo nguyên như một cơ thể sống có sinh, có tử, đã từng tồn tại hàng ngàn năm nay. Cuốn sách vì thế thực ra chỉ có một “nhân vật” chính. Đó là cái thảo nguyên có tên gọi “ƠLôn” ấy.
Thế thì sự “kì diệu” của “kho tàng kiến thức” ấy nằm ở chỗ nào? Ngoài sự “nhân cách hoá” sói đến mức thần kì như trên, than ôi, cái gọi là “kì diệu” của nó lại nằm ở chỗ… chẳng có gì mới mẻ. Toàn bộ những “kiến thức” thảo nguyên phong phú của tác giả phơi bày trên các trang sách thực chất chỉ là sự rao giảng một cách sinh động, tài hoa thuyết “chọn lọc tự nhiên” và “đấu tranh sinh tồn” mà Đac – uyn đã trình bày trước đó hàng thế kỉ. Điều này thì đến một học sinh học cuối cấp phổ thông cũng dễ dàng nhận thấy. Vâng! giống sói rất chi quan trọng trong việc bảo vệ thảo nguyên bởi nó diệt bớt dê vàng, ngựa, rái cá, chuột… là những giống ăn cỏ vô tội vạ, ăn không có kế hoạch, không nghĩ đến tương lai (thì cũng như những kẻ kiểu Bao Thuận Quý vậy)… Nó còn chén bớt những chú ngựa yếu đuối, bệnh hoạn… giúp tạo ra những giống ngựa ngày càng khoẻ mạnh. Ngoài vai trò là “đồ tể” số 1 của thảo nguyên, nó còn là những “công nhân vệ sinh” hết sức mẫn cán khi chén và tiêu hoá sạch cả xương xảu, lông lá của những sinh vật chết, hoặc thối rữa (kể cả người), vân vân và… vân vân. Rồi ngay cả cái căn bệnh gọi là “bệnh cừu, bệnh gia súc” của “con bệnh Trung Quốc” mà ông “thầy thuốc“ cao tay Trần Trận “khám phá” ra, cũng chả có gì mới, bởi nó đã được Lỗ Tấn tiên sinh nói tới từ già nửa thế kỉ trước. Có điều tiên sinh nói với 1 quan điểm khác, hoàn toàn nhân văn mà thôi.
Hay là sự “kì diệu” đó nằm trong chính những kiến thức về loài sói? Gạt bỏ những “nhân cách hoá” một cách thái quá ra, quả thực giờ ta mới biết loài sói về mặt bản năng, thì ra có thể nói là cũng đạt đến trình độ khá cao đấy. Song phải công bằng một tý mới được. Bởi nếu nói về bản năng, thì những con sói lừng lẫy kia của thảo nguyên Mông Cổ còn xa mới đạt tới trình độ như của những con ong, cái kiến (cả loài mối nữa). Những giống côn trùng ấy còn tổ chức thành “xã hội” chặt chẽ, có trên có dưới, có thế hệ, lớp lang, thậm chí có cả “đạo lý” đàng hoàng. Riêng loài ong còn được các nhà khoa học coi là một “loài người” thứ 2 trên Trái Đất này với tư cách là một đỉnh cao về bản năng, so với con người là đỉnh cao về lý trí. Những loài côn trùng ấy cũng là một nền văn hoá “canh nông”, lại “định canh định cư” hẳn hoi đấy. Thử xem chúng có “hèn” không? Đâu phải cứ “du mục”, cứ sống theo kiểu ăn cướp man rợ, lấy thịt đè người như giống sói kia mới gọi là thông minh, quật cường?
Sở dĩ nói như thế bởi chủ đề tư tưởng xuyên suốt cuốn sách là chứng minh tính hơn hẳn (về mặt ý chí, quật cường) của “văn hoá du mục” so với “văn hoá canh nông”. Chủ đề này được nhắc đi nhắc lại từ đầu đến cuối, nhắc không biết… mỏi mồm. Mà nguyên nhân chí tử của sự “hơn hẳn” này chỉ bởi “văn hoá du mục” mang máu sói, có “sói tính” (thông minh, quật cường), còn “văn hoá canh nông” mang… máu cừu, chỉ có “cừu tính, gia súc tính” (ngu ngốc, hèn đớn) mà thôi. Chính điều này (phải chăng) đã làm cho cuốn sách được tung hô là “kì thư” (hay kì quặc thư) đây? Bằng mọi cách tôn vinh “văn hoá du mục” bất chấp sự thiển cận, hồ đồ, đồng thời mạt sát không tiếc lời “văn hoá canh nông” của chính ông cha mình. Cái món “kì thư” ấy còn vận hết mười hai thành công lực khi công khai kêu gọi hãy “lang cách hóa”… cả dân tộc Hoa Hạ (biến dân tộc Hoa Hạ thành một “tộc” sói đi bằng hai chân). Hãy thử đọc một đoạn văn này thôi: “Lịch sử thế giới cho đến nay, vượt lên tuyến đầu phần lớn là các dân tộc vũ trang bằng tinh thần sói. Trong cuộc cạnh tranh tàn khốc trên thế giới, cừu muốn lặng nhưng sói chẳng dừng. Sói mạnh còn có sói mạnh hơn thôn tính. Dân tộc Hoa Hạ muốn tự cường trong thế giới cá lớn nuốt cá bé, phải thanh toán triệt để tính cừu, tính gia súc trong tính cách dân tộc nông canh, trở nên mạnh mẽ như sói, chí ít phải có tinh thần sói, tô tem sói…” (trang 383). Ái chà chà! Điều này xem ra còn nguy hiểm hơn thảm hoạ si -đa hay thậm chí cả bom nguyên tử nữa đây.
Phải công nhận ngòi bút của Khương Nhung tiên sinh đã chứng minh rất hùng hồn, khó mà cãi lại được. Bởi nền văn minh canh nông của người Hán đúng là không hiệu quả lắm trong việc tự bảo vệ mình, đến nỗi mặc dù đã đẻ ra lắm thứ triết học khôn ngoan có tiếng trên thế giới, lại có 1 tư tưởng gia quân sự với bộ binh pháp nổi tiếng cổ kim là binh pháp Tôn Tử (lại cũng do học từ sói, trừ mỗi thiên… gián điệp). Vậy mà đánh nhau thì dở ẹc, chỉ mỗi trò cậy lớn bắt nạt, lấy thịt đè người (chiến thuật biển người) là không ai bằng. Mấy ngàn năm cứ bị cái văn minh sói ấy nó đe dọa, đến nỗi phải xây cả Vạn lý trường thành để che chắn cũng không ăn thua. Đỉnh cao là “nỗi nhục Tịnh Khang”, khi mà nền “văn minh cừu” của “con cừu đầu đàn” Tống Huy tông bị “văn minh sói” của Đại Kim tiêu diệt. Thực ra, ngay sau đó còn một “nỗi nhục” khác lớn hơn thế nữa. Đó là cái “văn hoá canh nông” Hoa Hạ rộng lớn ấy đã bị nhấn chìm toàn bộ dưới gót giày của sức mạnh du mục Mông Cổ suốt 100 năm. Chỉ có điều tác giả lại không coi đây là nỗi nhục?. Đơn giản chỉ vì đoàn quân Nguyên Mông khét tiếng tàn bạo ấy đã có tác dụng mở rộng cương thổ (bằng cách ăn cướp) cho người Hoa Hạ(!), đã có công bành trướng, “trưng ra cho thế giới thấy phạm vi không gian sinh tồn của người Trung Quốc (trang 532). Thứ nữa, sự chiếm đóng đó còn là “một cuộc tiếp máu to lớn về tính cách dân tộc.” Chao ôi, quả là đáng sợ thay. Hỡi những láng giềng “hữu nghị”, biết điều chớ có mà “đùa” với cái “không gian sinh tồn” của một dân tộc đã được hưởng cái cuộc tiếp máu (sói) to lớn ấy. Công khai ca tụng “công đức” của những kẻ chiếm đóng tàn bạo dân tộc mình, lại dùng chính lịch sử nhục nhã của ông cha để chứng minh cho sự hèn đớn (rành rành) của nền “văn minh canh nông”, chứng minh cho tác dụng to lớn của cuộc cưỡng hiếp văn hoá ấy, tác giả Khương Nhung ngoài việc coi liêm sỉ chỉ là cái đinh gỉ, còn tỏ ra “có lý” quá trời. Viết đến đây, tôi lại phải trích thêm câu văn này để chứng tỏ sự hồ đồ, bất chấp sự thật lịch sử của tác gia kiêm tư tưởng gia họ Khương đã đạt tới trình độ… loạn ngôn, loạn trí: “Đến khi dân tộc thảo nguyên Mông Cổ trỗi dậy, đừng nói gì dân tộc nông canh Trung Quốc bạc nhược tới mức không chịu nổi một đòn, mà tất cả những dân tộc nông canh trên thế giới không còn đủ sức đánh trả.”(?) (trang 530). Nói bậy, thậm chí quá bậy! ông ta đã quên khuấy mất (hoặc cố tình lờ đi) một sự thật lịch sử khác sờ sờ ngay bên cạnh, rằng những gót giày khủng khiếp của sức mạnh du mục ấy sau khi đã đè bẹp Trung nguyên thiên triều vĩ đại và “bạc nhược” của ông ta rồi, đã phải dừng lại nơi biên giới nước Đại Việt nhỏ bé của nhà Trần. Thậm chí kẻ cầm đầu oai phong của nó phải chui vào ống đồng để chạy thoát thân. Mà không phải chỉ 1 “đòn” đâu nhé. Những 3 “đòn” cơ đấy. Nền văn hoá Đại Việt lúc ấy chẳng phải cũng “canh nông” hay sao? Thậm chí chẳng hề dây tí “máu sói” thượng đẳng nào như dân tộc Hoa Hạ vĩ đại của ông ta. Vậy thì cái sự “hèn đớn” hay “quật cường” ở đây đâu phải do “canh nông” (mang máu cừu) hay do “du mục” (mang máu sói) nó quyết định?
Dường như cũng cảm thấy hơi “lố” khi hết lời ca ngợi, biết ơn kẻ chiếm đóng, đồng thời để chứng tỏ chính kẻ chiếm đóng sau đó cũng bị lây cái tính “cừu” (chắc lây qua đường… tình dục) của người Hán, dẫn đến tính “sói” bị thoái hoá (tiếc quá), Khương Nhung tiên sinh bèn vớt vát chút thể diện cho dân tộc Hán của ông ta bằng cách viết: “Người Hán chỉ trong tám chín mươi năm là đã đuổi được người Mông Cổ về bên kia thảo nguyên”. Ái dà! nhanh nhẩy?, “chỉ” mất có “tám chín mươi năm” thôi à? Ai mà tài thế? Thưa Chu Nguyên Chương, người sáng lập ra triều Minh đấy. Ông này đã kịp được tiếp máu sói để trở nên một người có “tính cách sói mạnh mẽ”, từng “sáng tạo ra hình phạt giết 10 họ thảm khốc chưa từng thấy”. Khương Nhung tiên sinh tỏ ra rất tự hào với triều đại này. Triều Minh sau Chu Nguyên Chương còn có “Vĩnh Lạc Đại Đế” Minh Thành tổ vĩ đại nữa. Song Khương Nhung tiên sinh một lần nữa lại quên (hay lờ đi) một sự thật khác được chép rành rành trong Minh sử, rằng cái triều đại có “tính cách sói mạnh mẽ” mà tiên sinh rất đỗi tự hào ấy đã bị Lê Lợi, một anh nông phu “cừu” (lại vẫn canh nông) quét sạch cả 3 đời vua tôi nhà nó ra khỏi bờ cõi nước Đại Việt chỉ trong vòng có 10 năm thôi nhé. Hả hê đến nỗi Nguyễn Trãi đã gọi đích danh ông vua đời thứ 3 (kể từ Vĩnh Lạc Đại Đế) Tuyên Đức là “thằng nhãi ranh”. Có phải Khương Nhung tiên sinh tôn thờ “cường bạo” sói đến mức lú lẫn, không còn nhớ gì đến những sự thật lịch sử vang dội đến cỡ đó? hay tiên sinh không thể hiểu nổi một chân lý giản dị của người “láng giềng” Đại Việt: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”?.
Ngoài việc dẫn ra những nỗi nhục của ông cha để chứng minh cho tính “ưu việt” tuyệt đối của “tính cách sói”, Khương Nhung tiên sinh còn tỏ ra hàm hồ tới mức dẫn chứng cả sự “quật cường” của cái nước Trung Sơn bé tý thời Chiến Quốc ra cho cái “học thuyết” rởm đời của tiên sinh tăng thêm phần… ngụy biện. Than ôi, cái nước “vô danh tiểu tốt” thuộc giống “Bạch Địch” (hay “tiên Ngu”) nằm ở phía tây nước Tấn ấy, chẳng đã bị Nhạc Dương, tướng của Nguỵ Văn Hầu vây hãm suốt 3 tháng trời, đến nỗi phải đem cả con người ta ra nấu cháo để khủng bố tinh thần mà vẫn không thoát khỏi số phận bị diệt, từ đó biến mất hẳn trên bản đồ đó sao?
Nói gì thì nói, chưa kể đến những chiến thắng oanh liệt của Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt hoặc Quang Trung Nguyễn Huệ (toàn thị là văn minh canh nông) đối với cái “văn minh sói” hoặc có dính tí “huyết sói” ưu việt tuyệt đỉnh ấy. Chỉ sơ sơ vài sự thật lịch sử mà Khương Nhung tiên sinh đã cố tình lờ đi đó thôi, thì cái học thuyết “sói vi quý” của tiên sinh cũng đã sụp đổ tan tành rồi. Cái kiến thức ấy dẫu “kì diệu” đến mấy, thì cũng chỉ lừa được trẻ con. Sao lừa nổi những bậc cao sĩ. Vậy mà ngày nay, con cháu của những Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi… những vị anh hùng của một nền văn minh canh nông đã nhiều phen đập tan cái sức mạnh lai sói ấy lại dễ dàng nhẹ dạ đồng ý ngay lập tức với những tư tưởng sói của con cháu những kẻ bại trận kia. Để (nói theo chữ của Đức Thánh Trần): “uốn lưỡi cú diều” mà ca ngợi cuốn sách. Thật chẳng còn hiểu ra làm sao nữa?
Lẽ ra nếu đừng có phần “Vĩ Thanh” thì cuốn tiểu thuyết ca ngợi thiên tài sói, ca ngợi sự tàn bạo chó sói ấy dù có nhiều chỗ hồ đồ, song cũng tạm coi là có thể đọc để giải trí, cười cợt cho vui. Tiếc rằng tác giả lại tương thêm một phần dài lê thê gọi là “Khai quật bằng lý tính”, thực chất là những “chiết ný” cực kì quái đản, bệnh hoạn. Lịch sử đã được/bị nhìn dưới một góc độ hết sức thiển cận, méo mó và dị dạng. Chưa kể sự nhảm nhí, phản khoa học và phản nhân văn của những “chiết ný” ấy (ví dụ chỉ bằng cách chiết tự chữ “mĩ” (hoa hậu là… con cừu to), tác giả suy ngay ra rằng du mục Mông Cổ chính là tổ tiên của người Hán. Chưa biết đúng sai ra sao, chỉ thấy một điều rằng ông này đích thị là kẻ: “thấy người kiêu nhận liều là… ông tổ”). Riêng về mặt thủ pháp, bố cục… thì cả phần sách dày tới 68 trang khổ to này thuộc loại văn chương hạng bét. Để trình bày cái “tư tưởng [chó] sói” siêu hạng của mình, tác giả tiếp tục dùng những “màn” sắp đặt để rao giảng “kiến thức”. Tiếc rằng ở phần này, “thủ pháp” đó được vận dụng một cách hết sức vụng về, dớ dẩn. Đó là cuộc “thuyết giảng” giáo lý sói giữa nhân vật chính (Trần Trận) với gã “quan cừu” ngây ngô Dương Khắc. Cứ sau một đoạn lê thê “hùng biện” làm người đọc tưởng lầm đang đọc 1 cuốn sách lịch sử hay triết học quái gở nào đó, tác giả lại cho cái mồm của Trần Trận dừng lại nghỉ một chút, để cái gã Dương Khắc kia tấm tắc, tung hứng mấy nhời. Kết quả của sự “thuyết giảng” này là gã học trò Dương Khắc ngay lập tức từ bỏ cái tư tưởng “sô vanh Đại Hán” bấy lâu nay của mình (như chính miệng gã nói ra) để chuyển hẳn sang “sô vanh [chó] sói” cho nó tăng thêm phần bạo liệt. Thật chẳng khác gì cảnh một thầy một tớ diễn tuồng. Thà cứ viết lửng lơ con cá vàng, không cần nhân vật, không cần bối cảnh… còn hơn. Chứ viết theo kiểu này thì xưa nay các nhà viết tiểu thuyết tối kị. Viết cũng còn ngượng bút, nói chi đến việc đọc tránh sao cho khỏi ngượng mắt, ngượng mồm…
Nếu nhân vật Trần Trận chính là hoá thân của tác giả, thì phần “chiết ný” ấy đã lòi ra 1 sự thật, rằng Khương Nhung tiên sinh đâu phải nhà văn. Ông ta đã lộ rõ là 1 nhà đầu cơ tư tưởng có thứ hạng, kẻ chuyên nghiên cứu để “cải cách thể chế”… đấy chứ. Và ông ta viết cuốn sách này cốt để truyền bá, cốt công khai cái tư tưởng “sô vanh [chó] sói” của một nhà “cải cách thể chế” quái đản đó thôi. Nhân loại (cả chính Trung Quốc nữa) đã từng chứng kiến và vật vã qua bao cuộc “đấu tranh giai cấp” đẫm máu, nồi da nấu thịt… rồi. Vậy mà đối với nhà “cải cách thể chế” Khương Nhung tiên sinh hình như vẫn chưa ăn thua. Rằng cái sự giết chóc ghê tởm ấy cần phải có tính sói để “khốc liệt” và “sâu rộng” hơn nữa. Hãy đọc đoạn văn này để mà rùng mình: “Mình thấy khiếm khuyết chí mạng của văn minh nông canh Hoa Hạ là ở chỗ trong nền văn minh nông canh không có cạnh tranh sinh tồn khốc liệt sâu rộng hơn so với đấu tranh giai cấp.(trang 492)
Một nhà văn như ông Khương Nhung, lại là người sùng bái tính sói, thì cứ việc nhân cách hóa sói tha hồ. Song ông ta lại làm thế nhằm kêu gào “lang sói hóa” cả dân tộc Hoa Hạ vĩ đại của ông ta, đồng thời biến cả vũ trụ này thành một “thảo nguyên” để loài [lai] sói Hoa Hạ kia mặc sức tung hoành thì phải coi chừng. Không biết dịch giả nghĩ gì khi dịch đoạn văn này: “Người Trung Quốc hiện nay phải cảm thấy may mắn và tự hào vì có một di sản tinh thần lâu đời vĩ đại và quý báu như thế. Giờ đã đến lúc lột bỏ cái vỏ nông canh cừu tính để tinh thần (sói) ấy tỏa sáng chói lọi. Nó là nguyên liệu tinh thần bản thổ quý báu nhất của công trình chuyển đổi tính cách dân tộc Trung Hoa đương đại. “Con sư tử ngủ phương Đông” sẽ do tinh thần tô tem sói mà sống lại, thức tỉnh và vươn lên.” (trang 511)
Dù sao cũng phải cám ơn ông Trần Đình Hiến đã bỏ công dịch cuốn sách này để giúp chúng ta hình dung, rằng những “sói tính” ghê gớm kia không chỉ len lỏi dưới dạng thuốc độc, thuốc gây ung thư hay những cú điện giật trong vô vàn kiểu hàng hoá, thực phẩm, kem đánh răng, đồ chơi trẻ em… mang nhãn hiệu Made in China đang tràn ngập khắp thế gian mà báo chí trong nước và khắp nơi trên thế giới đang đề cập. Mà cả trong văn chương nữa. Biết đâu đây chính là mớ “cơ sở lý luận” cho những “thực tiễn” mang “sói tính” ấy?
Không dám bàn đến chất lượng dịch thuật ở đây. Việc đó xin nhường cho các nhà chuyên môn. Chỉ riêng câu thơ: “Quân bất kiến, Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai…” trong bài “Tương tiến tửu” của Lý Bạch (ông này theo Khương Nhung cũng là người mang dòng máu sói, căn cứ vào cái “hào khí ngất trời” trong thơ của ông ta) mà dịch giả dịch là: “Quân biết không, nước sông Hoàng Hà tự trời cao đổ xuống…”  thì nghe cứ… buồn cười làm sao ấy. Cứ như thể Lý Bạch nói với một ông bạn… tên Quân nào đó vậy. Có vẻ như dịch giả không dịch “thạo” thơ cho lắm. Bàn kĩ về những sự hồ đồ, chủ quan và phi nhân của cuốn sách thì còn nhiều, nhiều nữa. Chỉ riêng nội dung tư tưởng của cuốn sách, thì văn chương kiểu phát xít như thế này trừ những kẻ yêu thích chiến tranh, quen thói lấy thịt đè người, dẫm đạp lên nhau mà tồn tại nhắm mắt tung hô… còn ngoài ra, những người yêu chuộng hoà bình chắc chắn không thể chấp nhận.
Cuối cùng chỉ băn khoăn một điều. Rằng nhà xuất bản CAND tất phải đứng về phía nhân dân. Mà đã “nhân dân” tất phải yêu chuộng hòa bình. Phải chăng NXB có “thâm ý” xuất bản cuốn sách này để nhân dân “nâng cao cảnh giác” với cái tư tưởng “sô vanh chó sói” kia đang hàng ngày hàng giờ phà cái hơi tanh tưởi của nó vào những hải đảo, biên cương… thậm chí phà vào tận gáy ta, vào những bàn tay, ánh mắt trẻ thơ, vào cả cái dạ dày của ta nữa…? Ôi! Nếu có được cái “thâm ý” ấy thì tốt quá. Đáng tiếc hình như sự thật không phải như vậy.
Một ngày đầu tháng 6/2007  
Nguồn web Nguyễn Trọng Tạo.org